Nữ Trung Tùng Phận

Từ Cao Dai Toan Thu (CaodaiPedia)
Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm
Ngôn Ngữ
  • H: 女中從分

Nữ: Phụ nữ, đàn bà, con gái. Trung: ở trong. Tùng: theo. Phận: bổn phận.

Nữ trung là ở trong giới phụ nữ. Nữ Trung Tùng Phận có nghĩa là những bổn phận mà người phụ nữ phải tùng theo.

Nữ Trung Tùng Phận là tên của một tác phẩm thi văn của Đạo Cao Đài do bà Đoàn Thị Điểm giáng cơ đề bút.


1. Giới thiệu tác phẩm Nữ Trung Tùng Phận:

Nữ Trung Tùng Phận là một tác phẩm độc nhứt vô nhị trong kho tàng văn chương Việt Nam, vì nó không do một con người bằng xương bằng thịt nơi cõi phàm trần sáng tác, mà do một Đấng Nữ Tiên nơi Thượng giới dùng huyền diệu Tiên gia trong Đạo Cao Đài giáng cơ viết ra. Đấng Nữ Tiên đó là Nữ sĩ Đoàn Thị Điểm mà chơn linh là một Nữ Tiên nơi DTC.

Đây là một tác phẩm giáo dục, dạy Nữ phái về Nhơn đạo và Thiên đạo. Nhơn đạo gồm Tứ Đức và Tam Tùng. Khi Nhơn đạo xong thì người phụ nữ cần tiến lên tu Thiên đạo, cầu sự giải thoát khỏi luân hồi.

Trong thời Hạ nguơn Mạt kiếp, khoa học tiến bộ vượt bực, làm cho nền văn minh vật chất lấn át cả tinh thần, đưa nhơn loại xu hướng vào đường vật dục hơn là đạo đức tinh thần, làm cho nền tảng đạo lý suy đồi, luân thường điên đảo.

May mắn cho nhơn loại, Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế giáng trần mở Đạo Cao Đài để cứu vớt nhơn sanh, lập nên năm nấc thang tiến hóa cho nhơn loại, mà khởi đầu là Nhơn đạo, tiến lên kế trên là Thần đạo, rồi Thánh đạo, Tiên đạo và nấc thang thứ năm là Phật đạo.

Trong phần Nhơn đạo, Đức Chí Tôn chủ trương "Nho Tông Chuyển Thế", nghĩa là lấy tinh hoa của giáo lý Nho giáo làm căn bản để giáo hóa nhơn sanh, chỉnh đốn kỷ cương xã hội, khiến cho đời dần dần trở nên thuần lương đạo đức, đưa xã hội loài người tiến đến hòa bình Đại đồng Huynh đệ.

Trong chiều hướng đó, nhiều Đấng Thần, Thánh, Tiên, Phật, giáng cơ giảng dạy về Nhơn đạo, trong đó có Tiên Nương Đoàn Thị Điểm giáng cơ viết nên tác phẩm NỮ TRUNG TÙNG PHẬN có mục đích giáo hóa Nữ phái, lấy Nhơn đạo làm nền tảng. Người phụ nữ cần phải trau giồi Tứ Đức, thực hành Tam Tùng, giúp chồng làm nên sự nghiệp, dạy dỗ con cái thành nhơn chi mỹ, hữu ích cho xã hội. Khi đã xong phần Nhơn đạo thì nương theo bóng Đức Chí Tôn tìm lên những nấc thang tiến hóa cao hơn là Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo và Phật đạo, mà vượt qua bể khổ, thoát đọa luân hồi.

NỮ TRUNG TÙNG PHẬN là một áng văn chương tuyệt tác siêu phàm, được Đoàn Tiên Nương giáng cơ viết ra gồm 1401 câu thơ song thất lục bát, cùng một thể thơ với tác phẩm Chinh Phụ Ngâm. Đó là một lối thơ VN rất sở trường của Bà.

Tiên Nương Đoàn Thị Điểm viết NỮ TRUNG TÙNG PHẬN với tất cả kinh nghiệm sống của Bà trong suốt kiếp sanh nơi cõi trần: Làm con trong gia đình phụng dưỡng cha mẹ già, làm em giúp đỡ lo lắng cho anh chị và các cháu, rồi làm vợ, làm mẹ (mẹ nuôi), cộng với sự thông huệ của một bậc Thiên Tiên nơi cõi thiêng liêng, nên tác phẩm NỮ TRUNG TÙNG PHẬN xuất sắc hơn nhiều so với Chinh Phụ Ngâm về phương diện nhẹ nhàng thanh thoát, đầy lòng bác ái vị tha.

Bà Đoàn Thị Điểm giáng cơ viết NỮ TRUNG TÙNG PHẬN, khởi đầu vào đêm 26-2-Quí Dậu (dl 21-3-1933) tại Giáo Tông Đường TTTN, sau đó Bà yêu cầu hai vị Phò loan là Đức Phạm Hộ Pháp và Ngài Tiếp Thế Lê Thế Vĩnh tiếp tục phò loan mỗi đêm để Bà viết cho xong tác phẩm.

Xin chép ra sau đây bài giáng cơ đầu tiên:


Phò loan: Giáo Tông Đường, đêm 26-2-Quí Dậu,
(dl 21-3-1933)
  Hộ Pháp - Tiếp Thế
Hầu đàn:

 

Đức Q. Giáo Tông,
Giáo Sư Ngọc Trọng Thanh,
Giáo Hữu Thượng Trí Thanh.
Hầu bút:  

 

Sĩ Tải Võ thành Quốc.  


ĐOÀN THỊ ĐIỂM
Tiền trào Nữ sĩ

Đức Quyền Giáo Tông hỏi:
- Có phải Bà viết ra quyển Chinh Phụ Ngâm chăng?

- Phải. Tùng Thất Nương.

Đức Quyền Giáo Tông hỏi tiếp:
- Sao trong quyển Quốc Văn Trích Diễm ghi Bà họ Nguyễn?

- Chánh tông Đoàn, cải tông Nguyễn.

Đức Quyền Giáo Tông nói:
- Anh em tôi rất mừng Bà và sẵn đây xin Bà cho thi đặng dạy Nữ phái.

- Xin nghe: NỮ TRUNG TÙNG PHẬN.


      Dụng văn hóa trau tria nữ phách,
 Lấy kinh luân thúc thách quần hồng.
        Gươm thư giúp sức gươm hùng,
    Điểm tô nghiệp cả con Rồng cháu Tiên.
 
      Bởi rẻ rúng thuyền quyên thiếu học,
 Dầu chí thân tơ tóc cũng khi.
        Tinh thần cao thấp nhờ thi,
    Dục tài nữ sĩ sánh bì cùng nam.
 
      Chinh phụ trước treo nên giá quí,
 Áng văn làm nhuệ khí cầu vinh.
        Thêm duyên chước quí giao tình,
    Mỹ ngôn nương ý gia đình an vui.
 
      Nấu kinh sử ra mùi son phấn,
 Cầm bút nghiên đặng thắm má đào.
        Quần xoa đỡ ngọn binh đao,
    Xây hình thục nữ giặm màu nước non.


Xin phò loan kỳ sau tiếp, THĂNG.


Qua nhiều lần phò loan cho Bà viết tác phẩm Nữ Trung Tùng Phận, khi thì phò loan ở Giáo Tông Đường, khi thì ở Hộ Pháp Đường, Bà viết được khoảng 1000 câu thơ thì cơ không viết được nữa. Đức Hộ Pháp biết rằng Bà đã viết xong phần Đời (Thế), bắt đầu viết sang phần Đạo, cần phải có một vị Thời Quân chi Đạo phò loan thì Bà mới viết tiếp được. Do đó, Đức Hộ Pháp hỏi Bà để đánh điện tín qua Nam Vang gọi Ngài Cao Tiếp Đạo về Tòa Thánh phò loan cho Bà viết tiếp, thì Bà trả lời là khỏi, ngày mai Tiếp Đạo sẽ về tới Tòa Thánh.

Quả thật, chiều hôm sau, Ngài Cao Tiếp Đạo về tới Tòa Thánh, và ngay tối hôm đó, Ngài Tiếp Đạo phò loan với Đức Hộ Pháp, Bà viết tiếp Nữ Trung Tùng Phận cho đến hết, gồm tất cả 1401 câu thơ, hoàn thành tác phẩm vô cùng giá trị nầy.

Đức Phạm Hộ Pháp thuyết đạo ngày 26-10-Tân Mão (dl 24-11-1951) có nói về Bà Đoàn Thị Điểm như sau:

"Khi Bà Đoàn Thị Điểm qui vị, bị ngồi nơi Thanh Tịnh Đại Hải Chúng, nhờ Cô Thất Nương xuống độ Bà về Lôi Âm Tự, rồi nhờ Bà viết ra một cuốn Nữ Trung Tùng Phận, Bà mới siêu thoát được."

Như vậy, dù nguyên căn là một Nữ Tiên nơi DTC, Bà Đoàn Thị Điểm vì thiếu công quả cứu độ chúng sanh, nên khi qui liễu, Bà không được trở về ngôi vị cũ nơi cõi thiêng liêng.

Bà phải chờ đợi 178 năm sau, đến khi Đức Chí Tôn mở ĐĐTKPĐ vào năm Bính Dần (1926), mở ra thời kỳ Đại Ân Xá, rồi Bà phải chờ đợi thêm 7 năm nữa, tức đến năm1933, Bà mới có dịp lập công quả bằng cách giáng cơ viết ra tác phẩm Nữ Trung Tùng Phận để giáo hóa và cứu độ các tín đồ Nữ phái, nhờ đó, Bà mới được trở về ngôi vị cũ là một Nữ Tiên nơi DTC. (Xem tiểu sử Bà Đoàn nơi chữ: Đoàn Thị Điểm (1705-1748)).

Trong tác phẩm Nữ Trung Tùng Phận, Bà Đoàn Thị Điểm xác nhận trong kiếp sanh của Bà, đã viết tác phẩm Chinh Phụ Ngâm qua 4 câu thơ trong phần mở đầu từ câu 9 đến 12:

9.     Chinh phụ trước treo nên giá quí,
Áng văn làm nhuệ khí cầu vinh.
11.       Thêm duyên chước quí giao tình,
12.   Mỹ ngôn nương ý gia đình an vui.

Chúng ta còn nhận thấy rằng, trong Nữ Trung Tùng Phận (NTTP) có một vài câu thơ với những từ ngữ có ý nghĩa rất giống với các câu thơ trong Chinh Phụ Ngâm (CPN):


- NTTP: Câu 224: Phụ thân thế phận cho chàng dạy khuyên.
Câu 228: Thế chàng thiếp lãnh vai người hiếu nam.
- CPN: Câu 159: Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam.
Câu 160: Dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân.


Tác phẩm Chinh Phụ Ngâm chỉ có 412 câu thơ song thất lục bát, so với Nữ Trung Tùng Phận 1401 câu thơ, cũng bằng thể thơ song thất lục bát, thì Nữ Trung Tùng Phận vĩ đại hơn nhiều.

2. Mục đích Giáo dục của Nữ Trung Tùng Phận:

Nội dung của tác phẩm Nữ Trung Tùng Phận là lời tự thuật của một phụ nữ có sắc đẹp, có tài năng và đức hạnh, kể từ lúc tuổi thanh xuân, rồi có chồng theo về nhà chồng, phục vụ cho chồng và gia đình nhà chồng, sanh con đẻ cái, nuôi dạy con cho khôn lớn, đến lúc tuổi già răng long đầu bạc, qui y lo việc tu hành và thoát xác về Tiên.

165.     Cầm bút ngọc đề thi tự thuật,
Một kiếp sanh của bậc văn tài.
        Nêu gương tuyết giá hậu lai,
168.   Gỡ trong muôn một những bài sanh ly.

Tiên Nương Đoàn Thị Điểm mượn lời tự thuật nầy để giáo dục Nữ phái lúc tuổi trẻ phải lo cho tròn Nhơn đạo, giữ vững Tứ Đức, Tam Tùng, giúp chồng và gia đình nhà chồng, nuôi dạy con cái lớn khôn nên người. Đến lúc trung niên thì xong phần Nhơn đạo, người phụ nữ cần tiến lên tu phần Thiên đạo thì mới mong giải thoát khỏi kiếp luân hồi. (Thiên đạo là đạo tu giải thoát để lên cõi Trời. Đó là Tiên đạo và Phật đạo).

Tác phẩm nầy được Bà giáng cơ bắt đầu viết vào ngày 26-2-Quí Dậu (1933), nên nội dung tác phẩm cũng căn cứ vào hiện tình xã hội của nước Việt Nam ta thời đó. Đó là thời mà Nam Kỳ (miền Nam VN) là thuộc địa của nước Pháp, Trung Kỳ thì vẫn do vua quan nhà Nguyễn cai trị, nhưng đặt dưới sự bảo hộ của Pháp, xã hội vẫn còn phong kiến như thuở Bà Đoàn Thị Điểm sanh tiền, Nữ chưa được bình quyền cùng Nam.

Mở đầu tác phẩm, Tiên Nương Đoàn Thị Điểm thúc giục Nữ phái phải lo học tập văn hóa trong lúc tuổi còn niên thiếu, vì Bà cho rằng phụ nữ chưa được bình quyền cùng nam là vì dốt nát, nên bị khinh rẻ.

1.
2.
    Dụng văn hóa trau tria nữ phách,
Lấy kinh luân thúc thách quần hồng.
         
13.
14.
    Nấu kinh sử ra mùi son phấn,
Cầm bút nghiên đặng thắm má đào.

Tiên Nương còn thúc đẩy Nữ phái học cả võ nghệ nữa để giúp Nam phái bảo vệ non sông tổ quốc:

3.       Gươm thư giúp sức gươm hùng,
4.   Điểm tô nghiệp cả con Rồng cháu Tiên.
         
15.       Quần xoa đỡ ngọn binh đao,
16.   Xây hình thục nữ giặm màu nước non.

Người phụ nữ thời đó vẫn còn bị phái nam khinh rẻ vì dốt nát thiếu học, nên hoàn toàn lệ thuộc vào người chồng:

5.     Bởi rẻ rúng thuyền quyên thiếu học,
6.       Dầu chí thân tơ tóc cũng khi.
         
19.       Vật chơi ở chốn khuê phòng,
20.   Đã cam phận vợ để chồng cầm duyên.

Nếu thời niên thiếu không lo học tập thì đến tuổi trưởng thành, có chồng con rồi thì đâu còn thì giờ và tâm trí thảnh thơi để học tập.

33.     Mảng lo lắng chữ nhàn nào rõ,
Huống để công đến ngõ Khổng Trình.
        Rừng Nho biển Thánh thinh thinh,
36.   Nữ lưu nào thấu muôn nghìn thi thơ.

Trong gia đình, người mẹ gần gũi thân cận với con nhiều hơn cha, nên việc giáo dục của mẹ đối với con lúc con còn thơ bé rất là quan trọng.

Trong phần tiếp theo là lời Mẹ dạy con trai và con gái.

* MẸ DẠY CON TRAI: (từ câu 357 đến 592: 236 câu)

Dạy con trai phải lo thờ cúng Tổ tông:

357.     Định hương hỏa hằng bày quí tế,
Lập pháp gia tự kế phụng thờ.
        Con chàng thiếp trả khi thơ,
360.   Dòng chàng thiếp dạy phụng thờ tổ tông.

Lựa chọn nghề nghiệp cho con học tập để lớn lên có nghề nghiệp thích hợp bảo đảm cuộc sống gia đình:

361.     Lựa cho học các công các nghệ,
Tính cho hay mọi vẻ văn tài.
        Sĩ, Nông, Công, Cổ sanh nhai,
364.   Ngư, Tiều, Canh, Mục làm bài bảo thân.

Dạy con đạo Nhơn luân, gồm Ngũ luân: Cách cư xử đối với quốc gia, đối với cha mẹ, đối với vợ, đối với anh em và đối với bạn bè.

Đối với quốc gia dân tộc, phải có lòng yêu nước và lòng trung thành (TRUNG):

381.     Nếu đề đặng tinh trung hai chữ,
Vạch lưng con viết thử để dành.
        Rủi cơn loạn quốc khuynh thành,
384.   Tấm gan liệt sĩ cũng đành độ dân.
 
397.     Nào quốc thể người khi kẻ thị,
Nào dân đen phép quỉ hớp hồn.
        Nấu sôi cái máu anh phong,
400.   An bang tế thế một lòng lo âu.

Dạy con phải có hiếu với cha mẹ (HIẾU):

485.     Con ví biết trọng nghì phụ tử,
Hiển tông môn khá giữ nơi lòng.
        Đừng làm nhục tổ hổ tông,
488.   Lập thân trả hiếu nối dòng truyền hương.

Dạy con phải biết tôn kính thầy (KÍNH):

449.     Tôn kỉnh thầy cũng bì cha trẻ,
Mới đắc truyền mọi lẽ cao sâu.
        Học hay kế nhiệm mưu mầu,
452.   Học nên tài đặng giải sầu quốc gia.
 
473.     Con nhờ thầy công danh mới toại,
Như nhờ cha mới giỏi hình dung.
        Hai ơn ấy gẫm so đồng,
476.   Nghĩa kia như hiếu, mặn nồng cả hai.

Dạy con phải thương yêu dạy dỗ em út trong nhà:

493.     Còn em út trong nhà thơ bé,
Trai dạy khuyên, gái để khép khuôn.
        Con đừng quen tánh luông tuồng,
496.   Các em hư nết gieo buồn song thân.

Dạy con phải biết chọn bạn mà chơi:

501.     Ngoài gia tộc nước non vầy bạn,
Lựa tài danh giao cạn tâm tình.
        Đời như trận giặc đua tranh,
504.   Dầu tài một ngựa một mình khó nên.
 
517.     Trong võ trụ hiệp hào là mạnh,
Phận đồ thơ phải gánh non sông.
        Anh em bạn tác vầy đông,
520.   Xô thành cũng ngã, lấp sông cũng bằng.

Dạy con trai khi lớn lên có vợ thì phải biết thương yêu giúp đỡ vợ nhà, ăn ở cho có tình nghĩa thủy chung:

525.     Tình phu phụ biết bao nghĩa trọng,
Đạo nhơn luân gầy sống của đời.
        Dầu cho non nước đổi dời,
528.   Còn niềm chồng vợ, còn người còn ta.
 
529.     Bạn trăm tuổi thân hòa làm một,
Dầu sang hèn xấu tốt cũng duyên.
        Cùng nhau giữ vẹn hương nguyền,
532.   Cái duyên kinh bố là duyên Châu Trần.

Dạy con phải lo xây dựng nền văn hóa cho dân tộc mình và phát triển nền kinh tế cho văn minh tiến bộ:

393.     Giang sơn bốn nghìn năm tổ nghiệp,
Văn hóa so cũng kịp tha bang.
        Xa thơ nay gãy giữa đàng,
396.   Con tua giữ dạ cứu nàn giúp nguy.
 
461.     Học cho thấu máy linh cơ tạo,
Học cho toàn trí xảo văn minh.
        Thâu tài hay nhập nước mình,
464.   Làm cho dân hưởng thái bình giàu sang.

Dạy con trai không đam mê sắc dục, ăn chơi trác táng:

581.     Có chi trọng đàn ong xóm bướm,
Nơi phồn ba đậm nhuộm màu gian.
        Đừng quen kết lũ vầy đoàn,
584.   Cửa thanh lâu những nhộn nhàng gió trăng.

* MẸ DẠY CON GÁI: (từ câu 593 đến 712: 120 câu).

Con gái phải lo trau giồi Tứ Đức: Công, Dung, Ngôn, Hạnh, và giữ lấy Tam Tùng: Tùng phụ, Tùng phu, Tùng tử.

Mẹ dạy con gái về DUNG:

621.     Phàm phận gái đứng hàng khuê các,
Phải trau tria tướng hạc hình mai.
        Chín tầng cửa đóng then gài,
624.   Ra ngoài nghiêm nghịï, trong bày đoan trang.

Mẹ dạy con gái về NGÔN:

625.     Đối với khách đồng bàn đồng tuổi,
Nhớ cho hay lời nói giọng cười.
        Ngôn từ ngọt dịu thanh tươi,
628.   Tiếng tiêu khải phụng, phục người mới ngoan.

Mẹ dạy con gái về CÔNG:

629.     Gặp cơn rảnh nhà lan vắng khách,
Công chỉ kim, đèn sách học hay.
        Trăm nghề dầu chẳng đủ tài,
632.   Dệt văn Tô Huệ gỡ đày chinh phu.

Dạy con gái về HẠNH:

633.     Sửa từ nết ngày thâu tập tánh,
Trăm hạnh hay bởi tránh điều thô.
        Xấu xa rách rưới lõa lồ,
936.   Đoan nghiêm tánh đức cũng cho gái lành.

Dạy con gái lúc chưa chồng thì ở nhà phải tùng Cha (TÙNG PHỤ) và phải hiếu thảo với cha mẹ:

637.     Còn đương thuở tuổi xanh thơ bé,
Ráng theo cha học lễ học văn.
        Phép xưa tùng phụ đã rằng,
640.   Dựa thân cội tử đợi hàng trượng phu.
 
641.     Thánh xưa dạy từ câu nói hiếu,
Đạo thờ thân chầm khíu nên kinh.
        Tích xưa nhắc đến Đề Oanh,
644.   Thương cha nên phải bán mình kêu oan.

Dạy con gái phải lựa chọn tấm chồng cho xứng đáng với tài sắc của mình:

653.     Đợi nơi cửa khách tìm thức ngọc,
Đừng đổ đường rời bốc đóa hoa.
        Trông người so sánh với ta,
656.   Lường tài cân sắc hiệp hòa mới nên.

Dạy con gái khi có chồng thì phải tùng chồng (TÙNG PHU) và giữ lòng chung thủy với chồng:

673.     Đến lúc đã chung phòng hòa hiệp,
Phải tùng phu là phép xưa nay.
        Mạnh Quang tích trước ghi tài,
676.   Tề mi vẹn đạo chẳng nài khổ thân.
 
701.     Hễ thất nghĩa rẻ khinh kim cải,
Khó tưới hoa trở lại thanh tươi.
        Hư nên cũng có một đời,
704.   Hay chi thay đổi nhành mai sái mùa.

Hai đoạn: Mẹ dạy con trai và Mẹ dạy con gái rất quan trọng, tính theo số câu thì chiếm ¼ tác phẩm.

Người Mẹ cần lợi dụng sự thương yêu gần gũi các con để nhỏ to dạy dỗ và khuyên nhủ con. Bởi vì nuôi một đứa con thì dễ, chớ việc dạy một đứa con nên người đạo đức hữu ích cho nhơn quần xã hội là một việc muôn vàn khó khăn, đòi hỏi người cha, nhất là người mẹ phải tế nhị, sâu sắc và nhẫn nại.

Người phụ nữ, nếu gặp phải số phận bạc bẽo, gãy gánh giữa đường thì điều cao quí nhất vẫn là giữ lòng chung thủy với chồng, ở vậy nuôi con và dạy dỗ con, hy sinh bản thân mình để tạo sự nghiệp cho con, hơn là tái giá, bước thêm bước nữa (TÙNG TỬ):

777.     Thôi đành gởi tâm hồn gió tuyết,
Theo nương con cho hết Tam Tùng.
        Hoặc là tròn nghĩa thủy chung,
780.   Hoặc là chia dạ não nùng với con.

Khi con đã khôn lớn nên người, người phụ nữ cần nên hướng về đường đạo đức tu hành:

969.     Tiếng U Minh tía lia gợi thảm,
Giọng kình khua cửa Phạm dập dồn.
        Câu kinh tiếng kệ gọi hồn,
972.   Kêu thương khách tục, giải lòng người nhân.
 
997.     Rón rén trước Phật ngồi cúi gật,
Mấy lạy trình mấy nấc tương tư.
        Mảnh tâm xin gởi bấy chừ,
1000.   Nương theo thuyền huệ vào bờ Tương giang.

Nhìn lại cuộc đời đã qua, thấy rõ như là một giấc mộng, có chồng có con, mưu cầu danh lợi chỉ là chuốc thảm đeo sầu.

1109.     Ngắm thế cuộc chẳng bằng một giấc,
Kiếp phù sinh đặng thất là bao.
        Nhẫng là đeo thảm chác sầu,
1112.   Tóc xanh cho tới bạc đầu cũng in.

Người phụ nữ lúc bấy giờ nên xuất gia tu hành, tầm đường Thiên đạo thì mới mong giải khổ và thoát khổ.

1153.     Thay đạo phục bước xăng lánh thế,
Mơi thì kinh, tối kệ giải lòng.
        Từ bi hứng giọt nhành dương,
1156.   Lau thanh trái chủ, lấp đường nghiệt căn.
 
1233.     Vẹn Nhơn đạo đi lần nẻo chánh,
Đến vô ưu đặng lánh nhơn luân.
        Thuyền con mệch mệch như rừng,
1236.   Đon đường Thánh đức hỏi chừng Như Lai.

Tu thì nên luyện đạo và sẽ được đắc đạo tại thế:

1249.     Bế ngũ quan, không kiêng tục tánh,
Diệt lục trần xa lánh phàm tâm.
        Mệnh Thiên giữ vững tay cầm,
1252.   Đoạt phương tự diệt, giải phần hữu sinh.
 
1257.     Ngũ khí thanh diệt trừ quả kiếp,
Linh quang đầy đặng tiếp hồng ân.
        Xác tại thế đã nên Thần,
1260.   Ba mươi sáu cõi đặng gần linh Thiên.

Ráng cầm viết ghi lại những kinh nghiệm sống của đời mình để lưu lại khuyên dạy Nữ phái:

1381.     Gắng cầm viết nín hơi sống rốt,
Đề năm vần khắc cốt nữ lưu.
        Dứt tình ái, giải sầu ưu,
1384.   Hễ thương thì cũng lo mưu giữ mình.

Nhiệm vụ đã xong, linh hồn thoát xác về Tiên, hưởng hồng ân của Đức Chí Tôn:

1397.     Buông ngọn viết vào làn mây trắng,
Hễ có thương nhớ dạng là hơn.
        Cảnh Thiên gởi tấc hương hồn,
1400.   Đề câu tiết nghĩa vĩnh tồn hậu lai.
 
1401.     Đời đời danh chói CAO ĐÀI ./.

Tác phẩm Nữ Trung Tùng Phận của Tiên Nương Đoàn Thị Điểm giáng cơ viết ra vào năm 1933, lúc đất nước Việt Nam ta còn phong kiến và Pháp thuộc, nên thích hợp với hoàn cảnh xã hội thời đó, nhưng so với hoàn cảnh của người phụ nữ thời nay có nhiều đổi mới thì tác phẩm có một vài chi tiết không còn thích hợp nữa.

Tuy nhiên, đứng trên bình diện tổng quát, đặt nặng phần nội dung căn bản mà xem nhẹ chi tiết, thì tác phẩm Nữ Trung Tùng Phận nầy rất có giá trị về hai phương diện: Văn chương và Giáo dục.

- Lời thơ bóng bẩy, đầy âm điệu, ý tứ thanh cao, góp phần làm phong phú nền văn hóa Việt Nam.

- Nội dung giáo dục chủ yếu dành cho Nữ phái, nhưng không phải không có dạy Nam phái, góp phần củng cố nền tảng đạo đức gia đình, đúng theo chủ trương Nho tông Chuyển thế của Đạo Cao Đài, để từ đó xây dựng nền phong hóa Việt Nam càng lúc càng tốt đẹp, làm gương mẫu cho toàn nhơn loại, đúng theo Thánh ngôn của Đức Chí Tôn:

"Nam phong thử nhựt biến Nhơn phong."
Chú Thích
  • DTC: Diêu Trì Cung.
  • TTTN: Tòa Thánh Tây Ninh.
  • ÐÐTKPÐ: Ðại Ðạo Tam Kỳ Phổ Ðộ.
Trích Nguồn